Tìm kiếm trong blog này

Đang tải...
 

Mô hình CAGE trong marketing


mar toan cau


MỤC LỤC
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
1. ĐẶT VẤN ĐỀ 2
2.MÔ HÌNH CAGE 7
3.THÁCH THỨC, CƠ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG MARKETING TOÀN CẦU THEO CAGE 10
3.1. Khoảng cách về văn hóa 10
3.2. Khoảng cách về hành chính 18
3.3. Khoảng cách về địa lý. 21
3.4. Khoảng cách về kinh tế 24
4. Case Suty 29
KẾT LUẬN 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu cơ sở lý luận cơ bản về mô hình khoảng cách CAGE làm nền tảng cho việc đưa ra cơ hội và thách thức trong hoạt động Marketing toàn cầu
Nghiên cứu mức độ tác động của các yếu tố khoảng cách đến thương mại quốc tế và các ngành hàng nhằm chỉ rõ vai trò quan trọng của mô hình khoảng cách CAGE trong hoạt động Marketing toàn cầu
Nghiên cứu thách thức, cơ hội, tìm hiểu danh mục đầu tư quốc gia và case study cụ thể nhằm phát huy hiệu quả hoạt động Marketing toàn cầu theo mô hình CAGE
2.  Phương pháp nghiên cứu
Định tính:
Dựa vào cơ sở nền tảng lý luận
Dựa vào số liệu được khảo sát của các Giáo sư PANKAJ GHEMAWAT về Chiến lược toàn cầu của Trung tâm Anselmo Rubiralta tại trường kinh doanh IESE ở Bacelona và là Giáo sư dạy quản lý kinh doanh tại Đại học Kinh doanh Harvard
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Mô hình CAGE
Thời gian nghiên cứu: 5 ngày. Vì thời gian có hạn, nhóm thực hiện bài nghiên cứu dưới dạng bài luận phân tích.


NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1.  Đặt vấn đề
Năm 1991, Star TV được tung ra thị trường với kỳ vọng thành công là hoàn toàn chắc chắn. Với kế hoạch kinh doanh rõ ràng: Công ty sẽ cung cấp các chương trình truyền hình cho khán giả Châu Á vốn đang có nhu cầu rất lớn và mục tiêu hướng tới là 5% nhóm dân số thuộc tầng lớp thượng lưu của nền kinh tế. Đối tượng này không chỉ đáp ứng đủ điều kiện sử dụng dịch vụ mà còn là đối tượng cho thị trường quảng cáo. Vì tiếng Anh là ngôn ngữ thứ 2 ở hầu hết các thị trường mục tiêu nên thay vì đầu tư vào việc thực hiện các chương trình địa phương, Star TV lại sử dụng chương trình tiếng Anh sẵn có và khá rẻ là chủ yếu. Bằng cách sử dụng vệ tinh nhân tạo để phát chương trình đến người sử dụng, Star TV đã vượt qua sự kìm hãm của khoảng cách địa lý vốn là thách thức lớn nhất ngăn chặn các nhà phát sóng ngoài Châu Á từ trước đến nay. Đó chính là lí do, Ông trùm Murdoch với tập đoàn của mình là News corp rất tâm đắc dự án này (đặc biệt là lời kêu gọi mang thư viện phim Fox đến thị trường Châu á) đã mua lại Star với giá 825 triệu USD sau đó.
Tuy nhiên, kết quả không như Murdoch mong đợi. Báo cáo tài chính năm 1999 của Star TV thể hiện 1 khoản lỗ tới 141 triệu USD trên 111 triệu USD doanh thu. Lỗ lũy kế từ năm 96 đến 99 là 550 triệu USD, chưa kể các khoản lỗ của công ty liên doanh như Phoenix TQ. Star TV  trở thành 1 thảm họa bị chú ý. Ngoài ra, còn có rất nhiều sự việc tương tự như thế đã xảy ra tại các công ty kinh doanh quốc tế mà nguyên nhân chính là họ đã đánh giá quá cao sự hấp dẫn của các thị trường. Họ đã hoa mắt trước những tiềm năng chưa khai thác của các thị trường nên không nhìn thấy muôn vàn khó khăn và trở ngại đằng sau đó khi khai phá những lãnh thổ rất mới và khác biệt với thị trường nội địa mà điển hình là thị trường Trung Quốc.
Trung Quốc là thị trường mục tiêu đầy tiềm năng mà các công ty kinh doanh quốc tế đều hướng đến. Tuy nhiên, có thực sự dễ dàng chinh phục thị trường này hay không? Chính Star TV đã phát hiện ra Trung Quốc là một điểm nút đặc biệt khó khăn để phá vỡ. Trong một cuộc khảo sát gần đây tại 100 công ty đa quốc gia, 54% thừa nhận hiệu quả kinh doanh của họ tại Trung Quốc đã "tệ hơn kế hoạch” so với 25% theo báo cáo "tốt hơn kế hoạch." Tại sao tỷ lệ thất bại cao như vậy? Cuộc điều tra cũng cho cung cấp các dự đoán  câu trả lời: 62% số người trả lời rằng họ đã đánh giá quá cao thị trường tiềm năng cho các sản phẩm hoặc dịch vụ của họ.
Một phân tích nhanh chóng được thực hiện theo mô hình khoảng cách với quốc gia mà các công ty có nhiều thất vọng nhất. Xét về văn hóa, văn hóa Trung Quốc hiện diện gần như ở khắp mọi nơi. Đầu tiên, ngôn ngữ Trung Quốc khá khó học đối với người nước ngoài, và kỹ năng ngoại ngữ của dân địa phương thì giới hạn.
Thứ hai, văn hóa Trung Quốc theo kiểu dựa trên các mối quan hệ, tạo ra rào cản trong giao dịch thương mại với phương Tây, thậm chí có thể lập luận rằng người tiêu dùng Trung Quốc là "các nhà thành kiến​​". Nghiên cứu thị trường cho thấy họ dành sự ưu ái của mình cho thương hiệu nước ngoài  thấp hơn nhiều thương hiệu trong nước so với Ấn Độ.
Rào cản hành chính có thể thậm chí còn quan trọng hơn. Một cuộc khảo sát do thành viên của Phòng Thương mại Mỹ  thực hiện, cho thấy rào cản tại Trung Quốc khá lớn  khi họ hạn chế các doanh nghiệp nước ngoài tiếp cận thị trường bằng các biện pháp:  đánh thuế cao, thuế hải quan,  mà hơn cả đó là rào cản lợi nhuận tại Trung Quốc. Mức độ can thiệp của nhà nước đối với nền kinh tế vẫn còn cao. Tham nhũng cũng là một thách thức khá đáng kể. Năm 2000, chỉ số Minh bạch Quốc tế Trung Quốc xếp hạng 63/90 trong các quốc gia được nghiên cứu, đặc biệt là nhận thức về tham nhũng. Xếp hạng nguy cơ chính trị trong năm 2000 của Standard & Poor, Trung Quốc xếp thứ 5 trong khi 6 là vị trí tệ nhất.
Vì thế, Trung Quốc dù vẫn là 1 thị trường lớn và béo bở nhưng vẫn còn khá khó khai thác với những vấn đề khoảng cách  và khác biệt đáng kể.
Đã có nhiều người cho rằng khoảng cách đã mất đi. Họ cho rằng khoa học công nghệ, cụ thể là thông tin liên lạc toàn cầu đã làm cho thế giới nhỏ lại và trở nên tương đồng. Nhưng đối với kinh doanh thì những nhận định trên là sai và rất nguy hiểm.
Vấn đề bắt nguồn từ các công cụ phân tích mà nhà quản lý sử dụng để đưa ra quyết định về đầu tư quốc tế thường là đánh giá thấp chi phí kinh doanh quốc tế. Dễ thấy nhất là CPA (bảng phân tích danh mục đầu tư quốc gia) vốn là một công cụ lỗi thời nhưng vẫn được sử dụng rộng rãi để đưa ra quyết định về địa điểm đầu tư. Chỉ tập trung nghiên cứu về GDP, thu nhập của người tiêu dùng, xu hướng tiêu dùng- CPA chỉ nhấn mạnh đến doanh số tiềm năng và phớt lờ những rủi ro và chi phí trong quá trình đầu tư vào thị trường nước ngoài.
Hầu hết những chi phí và rủi ro này đều được tạo ra từ khoảng cách. Khoảng cách không chỉ ở vị trí địa lý mà còn ở văn hóa, hành chính, kinh tế là những yếu tố này có thể làm tăng hay giảm sự hấp dẫn của thị trường nước ngoài.
Các nhà kinh tế thường dựa vào lý thuyết hấp dẫn gọi là dòng chảy thương mại, trong đó nói rằng có một mối quan hệ tích cực giữa quy mô kinh tế với thương mại và mối quan hệ tiêu cực giữa khoảng cách với thương mại. Mô hình dựa trên lý thuyết này giải thích hai phần ba các biến thể quan sát trong dòng chảy thương mại giữa các nước song phương. Dựa vào mô hình đó, các nhà kinh tế Jeffrey Frankel và Andrew Rose "đã dự đoán mức ảnh hưởng của các khoảng đến thương mại”. Kết quả nghiên cứu về ước tính tác động của các yếu tố lên tình hình thương mại của một quốc gia của Frankel và Rose cho thấy cứ 1% gia tăng trên các nhân tố kinh tế truyền thống như GDP làm gia tăng 7-8% giá trị thương mại. Một số các nhân tố khác còn ảnh hưởng hơn nhiều, ví dụ thương mại giữa 2 nước cách nhau 5000 dặm chỉ bằng 20% so với giao dịch giữa 2 nước cách nhau 1000 dặm. Khoảng cách văn hóa và hành chính còn có ảnh hưởng to lớn hơn. Một công ty có thể giao dịch với một quốc gia từng là thuộc địa gấp 10 lần so với 1 quốc gia không có ràng buộc như vậy. Đồng tiền chung làm tăng thương mại 340%, thành viên của cùng 1 khối thương mại chung  làm tăng giao dịch đến 330%.

Download:

http://www.facebook.com/download/608406002567505/VanLuong.Blogspot.Com_CAGE.doc

0 bình luận:

Đăng nhận xét